Cơ sở hạ tầng cảng biển: Thành tựu, cơ hội và thách thức (PGS. TS. Nguyễn Ngọc Huệ) (23/03/2011)

 

st1\:*{behavior:url(#ieooui) }

Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, hệ thống cảng biển của chúng ta ít về số lượng và lạc hậu về công nghệ xếp dỡ. Ở phía Bắc là một số bến cảng nhỏ phân bố rải rác trong số đó lớn nhất là cảng Hải Phòng do Pháp xây dựng từ thế kỷ 19, được cải tạo để tiếp nhận hàng hoá của các nước bè bạn quốc tế trong phe XHCN phục vụ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa Xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam. Ở phía Nam có một số cảng do Mỹ xây dựng phục vụ chiến tranh như Cảng Sài Gòn, cảng Nhà Bè, cảng Đà Nẵng, cảng Cần Thơ, Trong những năm từ 1975 -1985 với cơ chế quản lý theo kế hoạch và ảnh hưởng nặng nề của cuộc bao vây cấm vận kinh tế do Mỹ và các nước phương Tây khởi xướng, tốc độ đầu tư xây dựng cảng biển rất chậm, cơ sở vật chất các cảng hầu như không được đầu tư mới, chất lượng ngày càng xuống cấp.

Giai đoạn 1986-1999, Đại hội đảng VI đề ra chủ trương đổi mới, kinh tế Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực. Trong các năm từ 1991 đến 1994 để đáp ứng nhu cầu phát triển KTXH của đất nước Nhà nước đã quan tâm đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cảng biển. Giai đoạn này cả nước có khoảng 55 bến cảng trong đó các cảng cũ cảng Sài Gòn, Đà Nẵng, Hải phòng được ưu tiên đầu tư cải tạo nâng cấp.

Giai đoạn 1999-2007, thời kỳ này kinh tế Việt Nam đã cơ bản vượt qua khủng hoảng, bước vào  giai đoạn phát triển với tốc độ cao. Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của vận tải biển cũng như hạ tầng cảng biển đối với sự phát triển kinh tế đất nước, năm 2009, dưới sự chỉ đạo của Bộ GTVT, Cục HHVN đã xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2010 định hướng 2020. Với quy hoạch tổng thể được phê duyệt, cơ sở hạ tầng cảng biển Việt Nam đã có bước phát triển đáng kể, đóng góp lớn vào sự tăng trưởng chung kinh tế của đất nước. Hàng hóa qua cảng tiếp tục tăng nhanh, đến năm 2007, cả nước đã xây dựng được 160 bến cảng, 305 cầu cảng với tổng chiều dài tuyến mép bến đạt 36,164 km. Trong giai đoạn này, quy mô hệ thống cảng biển Việt Nam đã tăng gấp 1,8 lần về chiều dài cầu bến, tăng 3 lần về công suất thông qua, tốc độ xây dựng cầu bến tăng bình quân 6%. Tổng khối lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển Việt Nam tăng hơn 2 lần với tốc độ trung bình 11,36%/năm, trong đó hàng container tăng 3,35 lần với tốc độ trung bình 18,9%/năm, số lượng tàu thuyền cập cảng tăng 2 lần.

Trong những năm đó, ngành hàng hải Việt Nam đã đầu tư xây dựng mới và đưa vào khai thác hiệu quả nhiều công trình cảng biển như: nâng cấp, cải tạo các bến cảng Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ, Cửa Lò, Nha Trang, Quy Nhơn... Một số bến cảng mới được xây dựng có khả năng tiếp nhận các tàu trọng tải 10.000 DWT – 40.000 DWT cập và làm hàng như cảng Cái Lân, cảng Đình Vũ, cảng Chân Mây, cảng Vũng Áng, cảng Dung Quất...  Hàng năm, Cục Hàng hải Việt Nam  triển khai thực hiện công tác nạo vét duy tu, nâng cấp các tuyến luồng hàng hải, xây dựng và bảo trì hệ thống báo hiệu hàng hải đảm bảm an toàn cho tàu thuyền ra vào các khu cảng đặc biệt là các cảng biển quan trọng của quốc gia. Hệ thống đèn biển Việt Nam bao gồm các đèn đảo, các đèn báo cửa, báo cảng, hệ thống kiểm soát tàu hành hải tàu thuyền... liên tục được đầu tư nâng cấp bằng nguồn vốn ngân sách và vốn vay hỗ trợ của một số nước bạn bè thế giới.  

Cùng với những thuận lợi do sự phục hồi kinh tế thế giới, Nhà nước đã có nhiều chính sách hợp lý thu hút các nguồn vốn khác nhau đầu tư vào phát triển hạ tầng cảng biển. Vốn ngân sách được ưu tiên cho các công trình công cộng như luồng chạy tàu, đê chắn cát, đê chắn sóng, công trình chỉnh trị ổn định luồng chạy tàu., cấp đủ kinh phí để thực hiện nạo vét du tu bảo dưỡng luồng chạy tàu hàng năm. Cầu, bến cảng kêu gọi doanh nghiệp tự huy động vốn đầu tư theo hình thức như công ty liên doanh, công ty cổ phần...

Từ năm 2007 đến nay, rất nhiều bến cảng biển với quy mô lớn, trang thiết bị hiện đại tiếp tục được triển khai xây dựng, đặc biệt các dự án đầu tư xây dựng cảng biển ở  khu vực thành phố Hồ Chí Minh- Bà Rịa- Vũng Tàu với sự tham gia của nhiều hãng tàu, công ty hàng hải hàng đầu của thế giới.

Trên cơ sở Bộ luật Hàng hải và các Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển đã hình thành các trung tâm cảng quan trọng ở các vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, miền Trung và phía Nam.Từ chỗ cả nước chỉ có 8 cảng biển đến nay đã có 49 cảng biển với gần 400 cầu cảng của nhiều thành phần kinh tế. Sản lượng hàng hoá hàng năm liên tục tăng trưởng ở mức cao: từ  5 triệu tấn/ năm vào những năm 80 thì  năm 2009 đã thông qua 251 triệu tấn. Và mức tăng trưởng này vẫn được duy trì trong thời gian tiếp theo.

Trong vòng vài năm tới cảng Bà Rịa-Vũng Tàu sẽ là cảng biển hiện đại của thế giới có thể tiếp nhận tàu trên 100 ngàn DWT và vận chuyển hàng đi thẳng từ Việt Nam đến Mỹ và các nước EU. Với công suất hàng chục triệu TEU/năm, khả năng  Bà Rịa-Vũng Tàu lọt vào danh sách các cảng hàng đầu của thế giới là thực tế. Bà Rịa-Vũng Tàu sẽ là một trung tâm hàng hải lớn của Việt Nam. Tiếp theo cảng Bà Rịa-Vũng Tàu là cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện-Hải Phòng và cảng trung chuyển container Vân Phong-Khánh Hòa có thể tiếp nhận tàu đến 200 ngàn DWT cũng sẽ là những cảng biển hiện đại quan trọng trong hệ thống cảng biển của thế giới.

Song song với việc phát triển hạ tầng cảng biển tức là đầu tư phát triển phần cứng, ngành hàng hải Việt Nam cũng có bước tiến đáng kể về phát triển phần mềm là chất lượng dịch vụ, công nghệ khai thác. Các doanh nghiệp khai thác  cảng biển đã nhận thức và quan tâm đến việc áp dụng công nghệ thông tin  và hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử  trong quản lý khai thác. Các cảng đi đầu trong việc áp dụng công nghệ thông tin như Tân Cảng, SP PSA, cảng Sài Gòn, cảng Hải Phòng, cảng Cái Lân, cảng Đà Nẵng và cảng liên doanh VICT  để quản lý và khai thác container. Các cảng được đầu tư trong thời gian gần đây đều được thiết kế xây dựng đồng bộ về hạ tầng, thiết bị và áp dụng công nghệ quản lý khai thác tiên tiến của thế giới.

Về phương thức quản lý, trước đây quản lý cảng thực hiện theo hình thức nhà nước đầu tư, giao cho các doanh nghiệp nhà nước khai thác. Năm 2004 đã lần đầu áp dụng hình thức cho thuê khai thác, áp dụng thí điểm ở cảng Cái Lân, trong thời gian tới tiếp tục áp dụng cho cảng quốc tế Cái Mép sau đó nhân rộng mô hình này cho các cảng khác được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách. Thực tế áp dụng mô hình cho thuê hạ tầng tại cảng Cái Lân giúp cho doanh nghiệp khai thác cảng chủ động trong sản xuất kinh doanh và nâng cao tính cạnh tranh, tự chịu trách nhiệm.

Cơ hội và thách thức

Hội nghị Trung ương 4 khoá X  đã đề ra chiến lược biển trong đó nêu bật vai trò của ngành hàng hải trong nền kinh tế quốc dân. Từ nay đến năm 2020 kinh tế hàng hải đứng ở vị trí thứ hai đứng sau khai thác dầu khí nhưng từ sau năm 2020 sẽ đóng vai trò quan trọng nhất trong các ngành kinh tế biển. Chiến lược biển là cơ sở để triển khai các chương trình hành động để đưa Việt Nam thực sự trở thành một quốc gia mạnh về hàng hải. 

Việt Nam nằm trong khu vực hoạt động hàng hải trong đó có việc khai thác cảng năng động nhất thế giới. Các cảng xếp dỡ container hàng đầu thế giới nằm ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á như cảng trung chuyển Container quốc tế  Hongkong, cảng PSA của Singapore, cảng Pusan Hàn Quốc, Kaohsiung  của Đài Loan… Hiện nay các nhà khai thác cảng và các hãng vận tải biển  hàng đầu của thế giới đang có mặt ở Việt Nam để đầu tư và cùng các doanh nghiệp hàng hải Việt Nam kinh doanh xếp dỡ và vận chuyển hàng hoá. Đây là cơ hội để các doanh nghiệp hàng hải của chúng ta học hỏi kinh nghiệm vươn ra thị trường lớn của thế giới. Đồng thời cũng là cơ hội để thu hút hàng hoá của các nước trong khu vực trung chuyển qua Việt Nam.

Bờ biển Việt Nam dài có nhiều vị trí thuận lợi đặc biệt có nhiều vũng vịnh kín sóng gió, nước sâu, gần tuyến đường hàng hải quốc tế có nhiều cửa sông lớn thuận tiện cho xây dựng cảng biển hiện đại và khai thác vận tải biển.Trên thực tế hiện nay chúng ta đã xây dựng được  nhiều cảng biển hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế, đó là cơ sở để phát triển toàn bộ hệ thống cảng biển Việt Nam.

Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, thách thức lớn nhất mà chúng ta phải vượt qua đó là đào tạo và cung cấp đủ  nguồn lực để phục vụ sản xuất và công tác quản lý khai thác cảng biển, đội tàu vận tải và dịch vụ với chất lượng cao đạt trình độ quốc tế. Xây dựng cơ chế quản lý phù hợp với xu thế của thời đại và đáp ứng được yêu cầu củaViệt Nam. Xây dựng và ban hành các chính sách cụ thể thúc đẩy kinh doanh có hiệu quả của các doanh nghiệp trong ngành hàng hải.

Khai thác những tiềm năng to lớn của đất nước, chớp lấy thời cơ đang đến trong thời gian tới ngành hàng hải Việt Nam tham mưu cho Bộ GTVT và Chính phủ ban hành các chính sách phù hợp với xu thế của thời đại, phù hợp với điều kiện Việt Nam thúc đẩy sự phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành, quản lý khai thác hiệu quả hệ thống cảng biển nhằm đưa ngành hàng hải Việt Nam ngày càng lớn mạnh đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế thế giới góp phần bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường Quốc tế.