Hàng hải Việt Nam: Chớp thời cơ vững bước đi lên (PGS. TS. Nguyễn Ngọc Huệ) (23/03/2011)

 

st1\:*{behavior:url(#ieooui) }

PGS. TS. Nguyễn Ngọc Huệ

 

                                                                                Cục trưởng Cục Hàng hải VN

Ngành Hàng hải Việt Nam (HHVN) đã có những đóng góp không nhỏ vào công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Đặc biệt, trong những năm gần đây, Ngành đã có những bước tiến vượt bậc trên nhiều lĩnh vực: hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách thủ tục hành chính, quy hoạch hệ thống cảng biển, phát triển đội tàu biển, dịch vụ hàng hải, đào tạo nguồn nhân lực…

Những bước phát triển đó của Ngành đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, góp phần vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân.

Năm 2011 - năm khởi đầu của kế hoạch 5 năm phát triển đất nước trong quá trình hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới. Nhìn lại 10 năm đầu của thế kỷ XXI, chúng ta thấy ngành HHVN đã có bước tiến dài khẳng định vai trò vị thế của mình trong nền kinh tế quốc dân. Hàng năm hàng hoá XNK của Việt Nam thông qua hệ thống cảng biển chiếm trên 92% . Cảng biển là điều kiện tiên quyết trong việc đầu tư xây dựng khu kinh tế, khu công nghiệp, nhà máy lọc hóa dầu, nhà máy xi măng, luyện thép, nhiệt điện, vật liệu xây dựng… Nếu không có cảng biển nước sâu cho tàu cỡ lớn chở hàng hóa cung cấp nguyên vật liệu cho các nhà máy hoạt động không thể hình thành nên các khu công nghiệp hiện đại ở các khu kinh tế trọng điểm ở 3 miền.

Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã đề ra Nghị quyết về “Chiến lược biển Việt Nam đến 2020” với mục tiêu phấn đấu nhằm đưa nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển. Nghị quyết đã đề ra các mục tiêu cơ bản đối với kinh tế hàng hải và chỉ rõ nhiệm vụ trọng tâm của ngành Giao thông vận tải trong kinh tế biển; đặc biệt đã xác định lấy kinh tế hàng hải làm yếu tố đột phá để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững kinh tế biển, góp phần bảo đảm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia về biển, đảo. Nghị quyết cũng nêu rõ định hướng chiến lược phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2020 phát triển kinh tế hàng hải đứng vị trí thứ hai sau khai thác chế biến dầu khí và các loại khoáng sản; sau 2020 đứng vị trí thứ nhất ưu tiên phát triển trong 5 ngành kinh tế biển. Đây cũng là lần đầu tiên Đảng ta đánh giá một cách toàn diện về vai trò, vị trí của biển và kinh tế biển đối với sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của đất nước.

Chủ trương lớn của Đảng về chiến lược biển đã mở rộng tầm nhìn, thay đổi nhận thức cũng như kế hoạch phát triển toàn ngành Hàng hải nói chung và mỗi một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực hàng hải nói riêng. Các địa phương có điều kiện tự nhiên và thị trường thuận lợi cũng chọn kinh tế biển là một trong những hướng ưu tiên để phát triển. Ngành HHVN đang đứng trước cơ hội lớn vững bước đi lên.

Để từng bước thực hiện thành công Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, với điều kiện tự nhiên và vị trí địa-chính trị hết sức thuận lợi, một trong những mục tiêu quan trọng của ngành Hàng hải là Việt Nam phải sớm trở thành căn cứ trung chuyển container quốc tế và là đầu mối phân phối hàng hóa quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu cùng dịch vụ Logistics chất lượng, hiệu quả - nhiệm vụ vẻ vang song cũng hết sức nặng nề. Hiện nay, chúng ta đang hội tụ được các điều kiện cần và đủ để đạt được mục tiêu đó.

Điều kiện cần. Trong mấy năm gần đây, hệ thống cảng biển Việt Nam trong đó có cảng cửa ngõ quốc tế, cảng ở các vùng kinh tế trọng điểm, cảng trung chuyển được quan tâm ưu tiên đầu tư phát triển. Các cảng tổng hợp và cảng container trên sông Cái Mép - Thị Vải tại Bà Rịa - Vũng Tàu đã được xây dựng và đưa vào vận hành khai thác có khả năng tiếp nhận cỡ tàu có trọng tải đến 150.000 DWT. Bước đầu hàng hóa Việt Nam đã được vận chuyển thẳng đến hai bờ Đông, Tây nước Mỹ và các nước Tây Âu không phải trung chuyển qua các cảng của nước thứ ba, giảm chi phí vận tải tăng sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam đồng thời làm tiền đề cho dịch vụ trung chuyển hàng hóa phục vụ các nước trong khu vực. Song song với xây dựng và khai thác các cảng trên sông Cái Mép - Thị Vải, ngành Hàng hải đang khởi động dự án Cảng trung chuyển container quốc tế tại Vân Phong (Khánh Hòa), dự án đầu tư xây dựng cảng Quốc tế cửa ngõ Hải Phòng tại Lạch Huyện theo phương thức hợp tác công tư (PPP), dự án đầu tư xây dựng luồng tàu vào các cảng trên sông Hậu để mở đường ra biển cho hàng hóa Đồng bằng sông Cửu Long thông thương với các nước…

Đến nay, ngành HHVN đã cơ bản hoàn thành việc đầu tư xây dựng hệ thống cảng theo Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2010, với 49 cảng biển và gần 50km tuyến mép bến. Thực hiện quy hoạch này, đã hình thành được 3 trung tâm cảng ở 3 vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, miền Trung và phía Nam đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong thời kỳ hội nhập với kinh tế thế giới. Hệ thống cảng biển Việt Nam phát triển nhanh về số lượng và chất lượng; lượng hàng hóa qua cảng tăng nhanh với tốc độ trung bình 13%/năm.

Điều kiện đủ. Kể từ khi thực hiện chính sách “mở cửa” của Đảng và Chính phủ đề ra Việt Nam là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư hàng hải có tiềm lực tài chính, có phương thức quản lý khoa học tiên tiến hiện đại. Hiện nay, các hãng tàu vận tải, các nhà khai thác cảng hàng đầu thế giới đã có mặt tại Việt Nam. Đây là cơ hội, là điều kiện hết sức quan trọng để cảng Bà Rịa-Vũng Tàu và tiếp theo là các cảng khác trở thành cảng trung chuyển container quốc tế phục vụ hàng hóa cho thị trường tiềm năng không giới hạn trong các nước  Đông Nam Á.

Cảng biển, đội tàu, dịch vụ hàng hải - ba bộ phận quan trọng nhất của vận tải biển có mối liên hệ, tác động qua lại với nhau rất mật thiết. Cảng biển phát triển về số lượng và chất lượng, đặc biệt là khi hình thành cảng trung chuyển quốc tế container, sẽ thu hút được các hãng tàu chuyên chở hàng hóa đi/đến Việt Nam và tiếp theo là phát triển dịch vụ hàng hải, trong đó có dịch vụ logistics.

Dịch vụ logistics bao gồm mọi hoạt động liên quan đến vận tải và phân phối hàng hóa nội địa cũng như quốc tế, thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau. Dịch vụ logistics là kết nối các phương thức vận tải khác nhau như đường ôtô, đường sắt, đường biển, đường sông, đường hàng không… Mục tiêu cơ bản của logistics là giảm thời gian chu chuyển của hàng hóa trong chuỗi cung ứng, giảm chi phí vận tải, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của hàng hóa.

Dịch vụ logistics có các chức năng phục vụ hàng hóa như xếp/dỡ, lưu kho/bãi, bảo quản, đóng gói, dán nhãn, phân loại hàng, làm sạch, giám định và kiểm định chất lượng hàng; chức năng vận tải và phân phối như chuyên chở, thu gom, phân phối hàng hóa bằng các phương tiện vận tải khác nhau; chức năng hỗ trợ như thông quan, thủ tục - chứng từ, tư vấn, tài chính, bảo hiểm, sửa chữa - bảo dưỡng phương tiện vận tải, cung cấp xăng dầu, motel, ăn nghỉ…

Logistics Việt Nam hiện nay chiếm khoảng 20% GDP của nền kinh tế, đóng góp quan trọng vào quá trình phân phối hàng hóa từ nơi sản xuất đến người tiêu dùng và là cầu nối thương mại toàn cầu. Hoạt động logistics không chỉ gắn liền với hoạt động kho vận, giao nhận vận tải mà còn sắp xếp dòng chảy nguyên vật liệu từ nhà cung ứng đến nhà sản xuất, sau đó luân chuyển hàng hóa từ khâu sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng tạo nên sự liên thông trong toàn xã hội, thúc đẩy quá trình thương mại và đáp ứng nhu cầu của hoạt động thương mại toàn cầu.

Bên cạnh phát triển cảng biển và dịch vụ hàng hải, những năm qua đội tàu biển quốc gia đã được đầu tư bổ sung nhiều tàu trọng tải lớn, chuyên dụng, trang thiết bị hiện đại. Tính đến tháng 12/2010, tổng trọng tải đội tàu biển quốc gia đã đạt con số 6,5 triệu DWT, đặc biệt là tàu dầu và tàu container tăng khá nhanh. Dự kiến đến năm 2015 có tổng trọng tải 8,5 - 9,5 triệu, đến năm 2020 đạt 11,5 - 13,5 triệu DWT. Từng bước trẻ hóa đội tàu biển Việt Nam đến năm 2020 đạt độ tuổi bình quân 12 năm.        

Ý thức được vai trò “nhạc trưởng” của ngành HHVN trong việc thực hiện Chiến lược biển, Cục HHVN - Cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành Hàng hải - đã triển khai lập quy hoạch phát triển Ngành với những nội dung quan trọng mang tính chiến lược: quy hoạch phát triển tổng thể hệ thống cảng biển Việt Nam, vận tải biển Việt Nam, công nghiệp tàu thủy Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030; hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước chuyên ngành trên các lĩnh vực hàng hải; đề xuất và thực hiện các chính sách phát triển Ngành…

Để thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển cảng trung chuyển container quốc tế,  dịch vụ logistics, trước mắt để bổ sung vào hệ thống văn bản pháp luật hàng hải hiện hành, Cục HHVN phải nghiên cứu đề xuất xây dựng Luật Cảng biển với những nội dung quan trọng liên quan đến mô hình quản lý khai thác cảng tiên tiến hiện đại phù hợp với điều kiện Việt Nam, các nghị định thúc đẩy phát triển dịch vụ trung chuyển hàng hóa quốc tế, dịch vụ logistics… một cách kịp thời và đồng bộ, để biến những tiềm năng to lớn của đất nước trở thành nguồn lợi kinh tế thực sự.

Cục HHVN đã tiến hành cải cách thủ tục hành chính tại cảng biển theo hướng đơn giản hóa thủ tục, hình thành và cung cấp “dịch vụ một cửa” cho các chủ tàu, chủ hàng, phù hợp thông lệ quốc tế và áp dụng tối đa các tiến bộ của công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành. Kết quả của công tác cải cách thủ tục hành chính đã được chủ hàng, chủ tàu trong và ngoài nước đánh giá cao. Để nâng cao hơn nữa hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực hàng hải, trong thời gian tới Cục HHVN sẽ chú trọng nâng cấp hệ thống mạng Internet, Intranet cả phần cứng lẫn phần mềm theo hướng hiện đại. Đồng thời, tập trung cải tiến Website của Cục HHVN để website trở thành công cụ phổ biến, chuyển tải nội dung các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước, các thông tin cần thiết để các cơ quan quản lý, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực hàng hải trong và ngoài nước khai thác sử dụng thuận tiện phục vụ cho công tác quản lý và kinh doanh của mình.

Cục HHVN - cơ quan quản lý nhà nước về chuyên ngành Hàng hải nằm trong hệ thống thượng tầng kiến trúc cần phải được nâng cao chất lượng quản lý để phù hợp với sự phát triển của hạ tầng cơ sở - các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực hàng hải. Để đạt được điều đó, trước hết Văn phòng Cơ quan Cục - Cơ quan đầu não của Cục HHVN và các cảng vụ hàng hải tại các khu vực cảng biển phải cải tiến lề lối làm việc khoa học thông qua xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo mô hình ISO 9001:2008 - đây là công cụ điều hành quản lý tiên tiến hiện đại nhất cho đến thời điểm này. Mỗi một cán bộ công chức viên chức của Cục HHVN phải nêu cao ý thức kỷ luật, xây dựng chương trình học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức ngoại ngữ và tin học và phải thường xuyên được đào tạo lại, cập nhật thông tin kiến thức về quản lý nhà nước…

Ngành Hàng hải là ngành mang tính quốc tế cao và trên thực tế ngành HHVN là một trong những ngành đi tiên phong để Việt Nam hội nhập với thế giới. Với mục tiêu hội nhập sâu, rộng hơn nữa, để bạn bè khắp năm châu hợp tác làm ăn với Việt Nam trong lĩnh vực hàng hải chúng ta phải có tiếng nói trọng lượng trong Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO). Mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hàng hải, Việt Nam sẽ thu hút được các các hãng tàu, các nhà khai thác cảng lớn đến đầu tư trên cơ sở cùng có lợi, đồng thời tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để chúng ta học hỏi kinh nghiệm quý báu, tinh hoa của nhân loại đã được đúc rút qua hàng trăm năm để phát triển bền vững.

Mùa xuân năm 2011 đã đến, đất nước ta đang có những thay đổi lớn để phát triển. Trong khí thế chung của cả nước triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, ngành HHVN đang đứng trước thời cơ lớn để phát triển mạnh mẽ và mang tính đột phá. Thiên thời, địa lợi, nhân hòa - chúng ta hãy chớp lấy thời cơ có một không hai này để vững bước đi lên xứng đáng với vai trò và vị trí của mình trong đời sống kinh tế-xã hội và bảo vệ vững chắc chủ quyền của đất nước.